Có những khoảng cách cần được lắp đầy

Lần đầu tiên tôi thấy Mẹ khóc là vào năm tôi học lớp Mười. Khi đó, Mẹ vừa từ buổi họp phụ huynh ở trường cấp ba của tôi trở về nhà. Cô Chủ nhiệm gặp riêng Mẹ để hỏi Mẹ về gia đình tôi, rằng cuộc sống gia đình liệu có điều gì xáo trộn đến nỗi một cô bé thi đậu vào trường với số điểm cao hơn bảy điểm so với điểm tuyển sinh và đạt điểm cao thứ ba khi thi vào lớp Chuyên lại có thể tụt hạng một cách thảm hại chỉ sau học kỳ đầu tiên của năm học.

Mẹ tôi bị sốc. Gia đình tôi trước đó, ngay tại thời điểm đó, và cả sau này, vẫn là một chiếc nôi êm đềm, chẳng có bất kỳ một biến cố nào nghiêm trọng. Tôi quả là đứa trẻ may mắn hơn nhiều bạn học cùng trang lứa. Cuối buổi chuyện trò thân mật, trong nỗi vô vọng khi truy tìm nguyên nhân, sau cùng, cô kết luận, kết quả học tập của tôi giảm sút là vì tôi có bạn trai. Mẹ tôi đinh ninh là cô nói đúng. Mẹ không chỉ sốc mà còn buồn lòng ghê gớm. Tôi có thể đọc được điều đó rõ ràng trong đôi mắt ngấn nước của Mẹ. Cha tôi nghe tin cũng rầu rĩ không kém. 

Ở tuổi 16, tôi không giỏi phân tích để tìm ra nguyên nhân của vấn đề. Tôi biết chắc việc kết quả học tập của mình kém hơn so với lúc trước không phải vì lý do như những người lớn phỏng đoán. Từ lúc vào lớp Mười, trừ môn Văn và tiếng Anh tôi vốn yêu thích từ bé và môn Địa lý có cô giáo giảng bài theo một cách rất sáng tạo khiến tôi vô cùng hứng thú mỗi lần đến tiết học của cô, tôi hầu như chống lại các môn học khác. 

Mỗi lần giáo viên giảng bài, tôi cảm thấy chán chường, không muốn nghe, và có chú ý nghe cũng không lọt vào tai. Tôi cố gắng học để chống đối với điểm số nhưng dường như kế hoạch này cũng chìm vào vô vọng. Suốt quãng thời gian đó, tôi chỉ có một cô bạn thân duy nhất. Tôi không lý giải được chính mình và cũng không biết tâm sự với ai. Một khoảng cách vô hình xuất hiện giữa tôi và những người yêu thương nhất. 

Lên lớp 11, con đường học tập của tôi cũng không sáng sủa hơn là mấy. Nhưng bên cạnh việc học, tôi lại có duyên làm cộng tác viên cho một tờ báo tuổi teen. Đó là công việc đầu tiên trong đời tôi. Nhuận bút từ những bài viết được đăng báo đủ cho tôi tiêu vặt mà không phải xin từ Cha Mẹ. Mỗi lần tôi mang một quyển báo về nhà, Cha Mẹ vui hơn một chút. Nhưng khoảng cách giữa chúng tôi vẫn chưa thu ngắn lại bởi Cha Mẹ không hiểu được tại sao con bé năng động có vẻ ra trò thế kia vẫn đưa về nhà bảng điểm không được mong đợi.

Trong thời gian trải nghiệm công việc thú vị này, tôi có cơ hội tìm hiểu tâm sinh lý của các bạn đồng trang lứa với mình, đồng thời, hiểu rõ chính mình hơn. Tôi dần tìm ra nguyên nhân mình lơ là việc học. 

Tôi còn nhớ rõ một lần phụ trách đề tài tuyển sinh Đại học, tôi đã gõ cửa phòng Giáo vụ của một trường Đại học lớn, tiếng tăm ở Sài Gòn bằng sự háo hức rằng biết đâu mai này mình cũng sẽ thường xuyên ra vào ngôi trường khang trang này. Tôi muốn nhờ các cô tư vấn chọn nghề cho các bạn học sinh cuối cấp. Các cô (trong đó có một cô làm việc tại phòng Giáo vụ và hai cô là giảng viên) nhìn nhau, rồi nhìn tôi, bảo “Chọn học ngành nào mà chẳng được hả cô bé? Con cứ học đại đi, rồi ra trường làm ở đâu hợp thì làm!”. Tôi đã không hỏi gì thêm, chào các cô, ra về với nỗi thất vọng tràn trề. Lúc đó, tôi nhận ra lý do vì sao mình không tha thiết học.

16, 17 là lứa tuổi những cô cậu học sinh chúng tôi bắt đầu biết nghĩ về tương lai, biết ước mơ, biết kỳ vọng, biết phấn đấu bằng tất cả nhiệt huyết để tiến về phía trước. Nhưng đứa-con-gái-bẻ-gãy-sừng-trâu là tôi khi đó đã chẳng nhìn thấy tương lai của mình ở đâu cả. Tôi không được định hướng và cảm thấy mất phương hướng hoàn toàn. Liệu việc học có thật sự đem lại kết quả gì không? Tôi không muốn trở thành một con người sống nhạt nhòa không có hoài bão. Có ai có thể nói cho tôi biết tôi phải làm gì không? 

Tôi đã viết một bức thư rất dài cho Cha Mẹ. Cả nhà tôi có thói quen gửi cho nhau những mẩu giấy nhỏ, khi là lời dặn dò, khi là một câu chúc ngủ ngon. Hồi tôi còn đi học, mảnh giấy tôi hay nhận được nhất là: “Cha đã mua đồ ăn sáng úp trong lồng bàn, chút nữa con ăn, sớt cho bà nội. Bà ăn ít lắm, sớt vừa thôi!”. Từ khi tôi đi làm, mảnh giấy vẫn đượm tình thương nhưng nội dung có khác đi một chút: “Sao lúc nào con cũng để xe cạn láng xăng? Cha mới đổ xăng rồi đó. Nhớ để ý kim xăng, gần hết phải đổ”. Trong cuộc sống, giữa người và người, luôn có những khoảng cách cần được lắp đầy. Với chúng tôi, khoảng cách đó hoàn toàn có thể thay bằng một mẩu giấy. Trước đó, tôi không biết phải viết gì, nhưng giờ thì tôi biết rồi. 

Trong thư, tôi kể cho hai người nghe việc tôi đã đến trường Đại học kia, về việc tôi đã thừ người ra nhiều ngày chỉ để nghĩ xem mình thật sự thích gì,  muốn trở thành người như thế nào trong tương lai, những ưu – khuyết của bản thân. Kết lại, tôi muốn được thay đổi môi trường học tập. Tôi nhớ lại cảm giác mình đã ngóng đợi đến tiết Địa lý như thế nào. Cách cô giáo cho chúng tôi tự tìm hiểu thông tin trước trên mạng rồi lên lớp thuyết trình khiến tôi vô cùng hứng khởi. Tôi nghĩ mình cần một môi trường học tập cởi mở hơn, nơi tôi sẽ khám phá ra những khả năng tiềm tàng, nơi những ước mơ được chắp đôi cánh tự do. 

Lá thư ngày đó tạo nên một bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Cha Mẹ hiểu ra vấn đề, cùng tôi ngồi xuống tìm cách giải quyết. Tôi lên mạng tìm hiểu thông tin những trường tôi cho là phù hợp. Cha đến tận nơi để tìm hiểu kỹ càng. Mẹ luôn hỏi han, quan tâm, và nói với tôi rằng “Con cứ hãy chọn làm điều con muốn. Đã có Cha Mẹ ở đây!”. Cuối năm học đó, tôi quyết định bỏ dở năm lớp 12, thi lấy học bổng của một trường Cao đẳng của Singapore. Hệ thống giáo dục của đảo quốc xinh đẹp ấy cho phép học sinh sau khi học hết lớp 10 có thể thi vào bậc Cao đẳng, sau đó chuyển tiếp lên bậc Đại học. Lá thư ngày đó đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô bé 17 tuổi, là một mắc xích để tôi trở thành tôi ở thì hiện tại – một người phụ nữ độc lập, tự do làm điều mình thích. 

 

Lê Ngọc

(Bài đăng trên tạp chí Đẹp online)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *